Hiển thị các bài đăng có nhãn tôivàbạnbè. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn tôivàbạnbè. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 3 tháng 9, 2012

Vĩnh viễn xa

Vậy là Ngọc mất đã hơn 49 ngày...
Những chậu hoa be bé, xinh xinh bằng đất sét mà em đã tặng tôi vẫn cứ rực rỡ trên bàn làm việc của tôi mỗi ngày. Tôi rất muốn tin, Ngọc đi xa đâu đó, rồi em sẽ về, nhất định là như vậy.
Nhưng trong ngần ấy thời gian làm việc với Ngọc, tôi biết rất rõ em đã từ chối tất cả những chuyến đi chơi xa, hạn chế việc dự tiệc tùng, đám cưới chỉ vì em phải về ăn cơm với mẹ, chăm sóc cho mẹ, vì mẹ luôn ở nhà có một mình.

Một buổi sáng thứ bảy...

Tôi đang trên đường đi Vũng Tàu cùng với gia đình thì Phi Ánh gọi điện thoại: "Cô ơi, anh Ngọc bị tai biến, hôn mê, đang cấp cứu ở BV Nhân dân Gia Định". Tôi có nghe lầm không? Tối thứ sáu em còn chào tôi ở trường. Tôi cấp tốc viết mail thông tin với toàn trường và kêu gọi hỗ trợ Ngọc. Viết vội vã như thế nhưng cũng rất may mắn là Thư kêu gọi này đã tác động lớn đến đội ngũ và chính sự hỗ trợ quý báu của những người đồng nghiệp thân thương đã giúp Ngọc kéo dài sự sống trong một thời gian khá dài.


Thứ hai và những ngày sau đó ở BV Nhân dân Gia Định:

Khi tôi đến thăm, Ngọc nằm co ro, ôm đầu, nhưng tỉnh táo: "Em nhức đầu lắm cô à..". Em cho biết, lúc gặp tôi hôm thứ sáu, em đã nhức đầu, em thường xuyên bị như vậy và: "Em tưởng tại nhà em chật, mẹ em ngủ ở trên lầu, còn em nằm trên ghế bố ở dưới đất, ót bị cấn nên mới nhức, em cứ uống Panadol là hết. Tối đó, em cũng uống rồi đi ngủ, sau đó, em đi... luôn!". Ngọc còn tếu táo như vậy. Tôi biết em đang bệnh rất nặng (liên quan đến mạch máu não) nhưng thấy em tỉnh táo nên tôi tạm yên tâm. Chúng tôi bắt đầu xếp lịch chăm sóc Ngọc, nhiệm vụ này của Huệ, rồi sau đó, là Tuyết Hồng. Cũng không giản đơn khi phải thường xuyên túc trực 2 người (đêm-ngày) và không thể tránh tình trạng, lúc thì quá đông, lúc khác, lại...không có ai. Cũng nhờ các tình nguyện viên và thân hữu luôn sẵn sàng "ứng chiến", bất kể đêm ngày nên phòng của Ngọc luôn nhộn nhịp, chắc Ngọc cũng ấm lòng. Em đâu biết, có những thời khắc chúng tôi "rối" lên vì không biết phải sắp xếp thế nào.Vậy mà, trong 3 tuần liền, Ngọc đã được chăm sóc chu đáo, có bạn đã lấy phép năm để nghỉ, có bạn hết sức thu vén gia đình thì mới đến với Ngọc được. Tôi vô cùng cảm kích, tôi đã làm việc ở nhiều nơi, lần đầu tiên, tại Hoa Sen, tôi hiểu thế nào là nghĩa tình.
Hải (Khoa ĐTCN) rất lo lắng vì tình trạng sức khỏe của Ngọc vì cùng với gia đình, Hải đã được các BS trao đổi cụ thể về bệnh trạng, hướng điều trị...Chúng tôi đứng trước thách thức: phẫu thuật hay chỉ điều trị ngoại khoa, khi nào ổn thì xuất viện và không cần biết điều gì sẽ xảy ra sau đó? Nhiều phương pháp điều trị của BS trong nước, nước ngoài từ nhiều bệnh viện liên tục được bàn bạc. Không phải là người trong nghề, chúng tôi cứ như là bị "dội" thông tin. Nhiều lần bộ ba: Thủy (BHG), Thúy (CĐ), Hải (Khoa) đã phải họp khẩn cấp, chúng tôi phải tự tìm hiểu về bệnh trạng của Ngọc, về các BS sẽ điều trị cho Ngọc. Và khó khăn lắm chúng tôi mới chấp nhận quyết định đặt stent cho Ngọc, tốn kém và cũng không BS nào dám cam kết sự an toàn tuyệt đối . Ngọc sẽ phải chuyển viện. Tôi được phân công trao đổi với Ngọc về việc này. Mãi đến bây giờ, bên tai tôi, vẫn văng vẳng lời từ chối thẳng thừng của Ngọc: "Em muốn được điều trị ngoại khoa, bữa nay em cũng đỡ nhiều rồi, từ từ em sẽ hết, mổ xẻ mà làm gì cô!". Tôi và vài bạn khác cùng với gia đình tiếp tục thuyết phục. Lúc ấy, chúng tôi chỉ muốn điều trị cho Ngọc nhanh chừng nào tốt chừng ấy vì các BS hối thúc mỗi ngày. Chúng tôi không dám nói với Ngọc những điều bi đát sẽ xảy ra nếu ngừng việc điều trị tại đây để cho Ngọc xuất viện.

Tại BV Đại học Y Dược...

Tôi đón em từ cổng, Ngọc có vẻ mệt và đau do di chuyển. Mặc dù đã được các cựu sinh viên giúp đỡ nhưng thủ tục nhiêu khê, không có giường nằm, vẫn phải chờ đợi đến chiều tối. Mặc dù vậy, sau khi gặp BS sẽ đặt stent cho Ngọc, được giải thích cặn kẽ, chúng tôi hy vọng, mọi việc rồi sẽ suôn sẻ. Tưởng rằng, đầu tuần sau, Ngọc sẽ được đặt stent và em sẽ xuất viện vài tuần sau đó.
Nào ngờ, mọi dự định thay đổi vào giờ chót: các BS quyết định mở hộp sọ...Chúng tôi bàng hoàng nhưng vẫn nghĩ đây là giải pháp tốt nhất cho Ngọc mà những người "ngoài chuyên môn" như chúng tôi thì làm sao can thiệp được? Tôi hoang mang lắm nhưng lại vô cùng phấn khởi khi nhận được tin tốt lành của các bạn báo từ phòng hậu phẫu. Các BS cũng tự hào về "thành công" này.

Vậy mà, những ngày sau đó, chúng tôi vô cùng lo âu vì thời gian nằm tại phòng hồi sức của Ngọc kéo dài một cách bất thường, diễn biến bệnh thì ngày càng phức tạp. Hai lần tôi đưa em ra khỏi phòng hồi sức thì cũng hai lần em trở lại phòng cấp cứu trong tình trạng nguy kịch.
Tình trạng như vậy cứ kéo dài hết ngày nọ đến ngày kia. Tôi vẫn nhớ như in giọng Hòa hốt hoảng báo tin: "Cô ơi, anh Ngọc ngưng thở rồi!". Cả trường xôn xao. Tôi vào BV, thấy người ta vừa đẩy em đi, vừa bóp bong bóng, mắt em nhắm nghiền, mặt không còn chút thần sắc. Tôi khóc đến nỗi những người xung quanh phải an ủi. Khi BGH và một số đồng nghiệp khác có mắt thì em đã được hồi sức. Buổi tối, tôi vào thăm, em đòi viết và khó khăn lắm, tôi mới đọc được dòng chữ: "Xong phim hả cô?". Tôi thấy rõ sự thất vọng trong mắt em, tôi biết làm gì ngoài việc tiếp tục động viên trong khi bản thân tôi, không dám tin và không chấp nhận sự thật.
Cứ vậy, Ngọc chết đi, sống lại nhiều lần và khoảng 3 tuần cuối, nói thật là tôi không có can đảm vào thăm Ngọc nữa vì tôi sợ ánh mắt em. Điều chúng tôi quyết định theo chỉ định của BS là đúng hay sai? Nhiều đêm, tôi thao thức, tự dằn vặt mình, rồi chia sẻ với Hồng, Hải, Hòa...mà lòng vẫn không thôi ray rứt.

Những ngày cuối đời...

Tại BV Chợ Rẫy, BS đã khẳng định với tôi: Ngọc không thể hồi phục vì em đã chết lâm sàng đến lần thứ năm rồi. Tôi hiểu điều đó nhưng vẫn không dám tin. Tôi nắm bàn tay buông thõng của em,Ngọc ơi, sao em không nắm chặt tay cô như mọi khi? Mắt em đã không còn mở được nữa rồi. Em không nhớ chị Hải đã nói với em: Phim còn nhiều tập, làm sao mà xong được hả em? Bạn bè đang ở quanh em, nhìn mọi người đi em, rồi nhếch miệng cười cho mọi người vui. "Em biết cô không Ngọc?". Tôi lặng người khi thấy giọt nước bé xíu từ khóe mắt em.
Tôi rời BV, trời mưa rả rích, xem như đó là lần sau cùng tôi còn được gặp em.

Vĩnh viễn không còn...

Những ngày tôi, Vy, Tuyết Hồng liên tục gọi cho nhau: Hồng ơi, hôm nay đã chi cho anh Ngọc bao nhiêu rồi em, khi nào thì phải thanh toán viện phí tiếp? Vy ơi, vận động thêm được bao nhiêu rồi em? Làm sao bây giờ cô, sắp hết tiền rồi...Cứ mỗi lần nghe tiếng Hồng ở đầu dây bên kia là tôi đã rối rít: sao em, hết tiền đóng viện phí hả...để cô hỏi Vy...Tôi có riêng 1 folder dành cho Ngọc, trong đó, tôi lưu lại từ Thư kêu gọi cho đến các báo cáo tiền hỗ trợ từ các Khoa, Phòng, cựu GV-NV được Vy (kế toán CĐ) tổng hợp, được Hồng (thủ quỹ) báo cáo các khoản chi, các Thư cám ơn và folder đã được khép lại với điếu văn tôi viết khi làm lễ truy điệu cho Ngọc.
Thủy, Thúy, Hải sẽ chẳng bao giờ còn phải họp khẩn cấp để bàn bạc và quyết định những vấn đề mà cả ba chúng tôi đêu chỉ mới nghe lần đầu tiên. Tôi cũng chẳng bao giờ còn phải nhắc lại với Hải câu: "Em gặp BS chưa? BS có nói gì không em? Hay là mình nhờ sinh viên xin giùm cái hẹn...". Cũng sẽ không còn lần nào, Thủy đi công tác có 1 tuần mà tôi đã băn khoăn: "Em đi lâu quá, rủi ở nhà, Ngọc có chuyện gì, chị biết tính làm sao?". Thủy đã an ủi tôi: "Không sao đâu chị, em tin anh Ngọc không chết đâu!" và tôi cũng hy vọng...
Mỗi buổi sáng, từ sảnh bước vào, tôi sẽ không còn dừng lại ở Trung tâm Đào tạo để nghe các em báo cáo: hôm nay anh Ngọc cười nè cô..., anh Ngọc viết cả trang giấy..., anh Ngọc cấp cứu nữa rồi...
Hoàng Anh, Hà Ni, Hòa, Hồng. Phi Ánh sẽ không còn nhận tin nhắn của tôi hỏi thăm Ngọc, không cần nhớ giờ giấc...

Khi tôi còn là Trưởng Khoa QLDV, tôi có thói quen gửi Thư cuối năm cho toàn thể GV-NV của Khoa và vô cùng cảm động khi Ngọc là người duy nhất trả lời tôi. Em chỉ viết đơn giản mà tôi còn nhớ mãi, bởi vì, với tôi, như vậy đã là chia sẻ: "Thưa cô, bây giờ là Giao thừa". Thói quen ấy của tôi kết thúc rồi.
Cũng chẳng khi nào tôi còn được gặp em trong nhà xe để nghe em nhẹ nhàng: "Cô để em dắt xe cho..". Sẽ không còn những cái bánh choux creme (em biết tôi rất thích bánh này) mà em thường mua cho tôi khi tôi có lớp dạy tối.

Ở Ngọc, tôi đã được em chia sẻ những điều tưởng chừng đơn giản như những lẽ thường tình nhưng lại vô cùng quý giá. Khi tôi giận sinh viên vì các em vô lễ thì Ngọc bình thản: "Cô giận tụi nó làm chi cho mệt. Em thì em cứ dạy, học là chuyện của sinh viên". Vậy mà Ngọc luôn có FB rất cao từ sinh viên. Những ưu ái mà sinh viên cũ-mới đã dành cho Ngọc trong suốt thời gian Ngọc nằm viện và trong tang lễ của em khiến tôi thêm tin tưởng "nghĩa thầy-trò".
Làm việc trong cùng một Khoa, Ngọc hay nhắc tôi: cô uống đường dành cho người tiểu đường nha cô, như vậy, chắc ăn hơn, cô lớn tuổi rồi. Tôi tưởng em quan tâm đến việc chăm sóc sức khỏe, không phải cho mình mà cho người khác nữa. Tôi không ngờ em đã đồng hành cùng Panadol trong một thời gian dài mà vì mải mê công việc, bận bịu mưu sinh, đã không kiểm tra, kiểm soát, đến khi ngã bệnh thì vô phương cứu chữa.

Tất cả giờ đã vĩnh viễn xa. Lần đầu và cũng là lần cuối tôi viết về em, nhân sinh nhật lần thứ 45 của em.
Người bạn nhỏ, người đồng nghiệp thân thương của gia đình Hoa Sen, người "sẵn sàng chia sẻ với người khác nhưng lại âm thầm chịu đựng những nghiệt ngã đời thường của chính bản thân", ngủ yên em nhé, không nhức đầu, không vướng víu vì máy thở, ống ăn...và giấc ngủ sẽ bình thản như em vẫn bình thản đi trong cuộc đời.

Chỗ ngồi cạnh tài xế sẽ mãi mãi vắng em trong những chuyến đi từ Cao Thắng lên Quang Trung và các bạn hay trễ giờ, không còn ai gọi điện thoại nhắc các bạn nữa đâu!

Tôi chỉ muốn nhắc lại lời tôi nói với em tại Bình Hưng Hòa trước khi tôi chào vĩnh biệt em:
                                            "Ngọc ơi, cô xin lỗi em..."
Đọc tiếp ...

Chủ Nhật, 19 tháng 8, 2012

Gặp gỡ BS Đỗ Hồng Ngọc, tác giả: "Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng"

Được Thanh Thúy (Hội quán các bà mẹ) mời tham dự buổi giao lưu, giới thiệu "Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng" của BS Đỗ Hồng Ngọc, tôi vui nhưng cũng có chút lo âu vì chưa tham dự sinh hoạt với Hội quán lần nào, anh Ngọc thì thân quen rồi. Nhưng liệu với vai trò là 'khách mời", tôi sẽ làm gì đây?

Sáng thứ bảy (18-8-2012) tôi đến địa chỉ trong Thư mời với một chút hồi hộp...Đây là nhà của GS Trần Văn Khê, cũng là lần đầu tôi được tiếp xúc với GS dù tôi vẫn biết ông là bạn của ba tôi.
Tôi không khó khăn để tìm ngôi biệt thự này, và bước vào cổng, tôi đã bị thu hút ngay với gian hàng sách:


Tôi đang mải mê chọn sách thì Thúy goi ĐT, và dĩ nhiên tôi được em mời vào trong.
Mọi người bắt đầu đến, hội trường được trang trí trang nhà, phù hợp với phòng khách nhà GS.


Anh Ngọc bắt đầu buổi chuyện trò nhẹ nhàng, tự nhiên như bản tính của anh. Và cứ thế, người dự nghe anh tâm tình về lý do anh viết quyển: "Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng", mà mỗi câu chuyện kể của anh dường như ẩn chứa biết bao điều.

Là BS Trưởng Khoa Cấp cứu của BV Nhi đồng, nơi đây, anh đã từng thấy những nụ cười vô tư của trẻ, những thân thể nhỏ bé mà tím tái vì khó thở, và đau xót nhất là những cái chết bất ngờ, ngoài dự liệu của BS, còn với người thân là những mất mát không thể bù đắp. Thử hỏi, một BS trẻ, một trái tim nhân hậu như anh Ngọc làm sao không xót xa? Từ đó, anh nghĩ tại sao không hướng dẫn các bà mẹ cách nuôi con để con có thể khỏe mạnh, vượt qua những bệnh tật thông thường mà hầu như đứa trẻ nào cũng mắc phải?

Lúc ấy,BS Ngọc cũng đang là cha của 3 đứa trẻ thì ít nhiều, ngoài những kiến thức y học, anh còn có kinh nghiệm làm cha, thì tại sao không chia sẻ với các ông bố, bà mẹ, những người "đồng cảnh ngộ" với anh?

Hơn nữa, anh là người hiểu rất rõ sự khác biệt giữa kiến thức nhi khoa và kiến thức dưỡng nhi. BS Nhi khoa sẽ có đủ kiến thức nhi khoa để trị bệnh cho trẻ nhưng nuôi dưỡng trẻ để trẻ được khỏe mạnh thì không phải ai cũng am hiểu.


Sau phần giới thiệu "hoàn cảnh ra đời" của quyển sách, anh Ngọc tiếp tục cho người nghe biết về những lần tái bản của tác phẩm này, đến 18 lần với nhiều hình thức (sách, Phụ lục của báo Khoa học phổ thông), với nhiều tựa sách hơi khác nhau (mà mỗi sự thay đổi đều được gắn với một câu chuyện lý thú). Cứ vậy, quyển sách được lưu giữ và quảng bá từ 1974 cho đến nay


Nội dung tiếp theo của buổi chuyện trò là phần giao lưu với các khách mời, những độc giả "trung thành" với "Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng" và những độc giả đã từng mến mộ nhà văn, nhà thơ Đỗ Hồng Ngọc.

GS Trần Văn Khê, không chỉ nói về quyển sách mà nói về tác giả. Chúng tôi được nghe GS kể những chuyện về anh Ngọc, hiểu thêm nữa về sự dí dỏm, duyên dáng nhưng không kém phần sâu sắc của anh. Anh sống cùng mọi người, không phân biệt tuổi tác và GS nhấn mạnh nhiều lần về sự vui mừng khi quen biết rồi trở thành thân thiết với anh.


Cả hội trường thật sựđược thuyết phục với phần trình bày của chị Hoàng Anh, người mẹ trẻ đã đạt giải nhất trong Hội thi bà mẹ nuôi con khỏe được Sở Y Tế TP.HCM tổ chức 1987. Hội đồng Giám khảo thật sự ngạc nhiên vì chị đã vượt qua kỳ thi với nhiều kiến thức nuôi con mà một bà mẹ 26 tuổi như chi khó có được. Chị Hoàng Anh bộc bạch: chị là "fan" của BS Đỗ Hồng Ngọc từ khi còn học phổ thông ở Huế và khi lập gia đình, "Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng" của BS chính là người bạn đồng hành cùng chị trong những tháng ngày nuôi con vất vả. Nội dung mà chị đã "nghiền ngẫm" đã giúp chị có những câu trả lời chính xác. Cậu bé 10 tháng tuổi năm xưa đi thi cùng mẹ, nay đã trở thành BS và cũng có mặt trong buổi giao lưu này.


Rất vui, khán giả còn được thưởng thức những câu hát ru với giọng Huế ngọt ngào của chị, những câu hát đã đưa các con vào giấc ngủ êm đềm và nay, hai con trai thành đạt..

Và...tôi, cũng là một trong những khách mời, tôi không tiếp tục giới thiệu quyển sách này mà nói về BS Đỗ Hồng Ngọc, ảnh hưởng của anh đối với tôi khi tôi nuôi con trong lúc nghèo khó và sau này, nuôi cháu ngoại với một vài bất đồng giữa bà ngoại (nuôi trẻ theo kinh nghiệm) và mẹ (nuôi trẻ theo khoa học hiện đại). Trò chuyện với anh Ngọc, tôi luôn cảm thấy yên tâm vì anh là một BS biết lắng nghe, không phải chỉ để "trị" bệnh cho trẻ bớt "đau" mà còn chia sẻ nỗi "khổ" của những người thân. Nỗi khổ ấy sẽ vơi đi nếu được ai đó nghe và thấu hiểu.



Cũng là một bà mẹ trẻ (sinh con đầu lòng khi 25 tuổi), chị Kim Chi đến từ Lâm Đồng đã khiến chúng tôi vô cùng xúc động khi nghe chị tâm sự: "Tôi sinh cháu thiếu tháng và cháu chỉ nặng 1k8, rời khỏi mẹ, cháu chỉ là một sinh linh nhỏ bé, đen thui, phòng sanh vắng lặng, tôi chờ đợi tiếng cháu khóc, cuối cùng, tôi cũng được nghe tiếng khóc ấy...Rồi những ngày gian khổ tiếp theo, không có phòng dưỡng nhi, cháu không được nằm lồng kinh và tôi nuôi cháu lớn với 2 chai nước sôi ấp hai bên..". Nhắc lại những kỷ niệm ấy, người mẹ mà nay đã là bà ngoại, mắt vẫn có nước, những giọt nước mắt, mấy chục năm rồi vẫn chưa chảy thành dòng....


Thời gian không còn nhiều, các bạn trẻ (nam và nữ) vẫn còn muốn chia sẻ, nêu thắc mắc, tựu trung, tôi nhận thấy các bạn đều quan tâm đến vấn đề mà anh Ngọc đã nêu ngay trong "Lời ngỏ" của quyển sách ngay từ lần đầu xuất bản: "Nuôi trẻ là một bản năng, một nghệ thuật hay một khoa học?". Nghe càng nhiều ý kiến của nhiều thế hệ, thì các bà mẹ càng thấm thía rằng: không thể bỏ qua yếu tố nào trong 3 yếu tố trên.

Các bạn chờ đợi những quyển sách khác của BS Đỗ Hồng Ngọc: viết cho các bà mẹ trẻ, các bà mẹ tuổi trung niên, các ông bố...

Hội quán các bà mẹ cũng đang chờ....
Thanh Thúy, thay mặt Ban tổ chức tổng kết và nói lời chia tay:


Chúng tôi chụp hình lưu niệm.  Buổi giao lưu đã kết thúc nhưng có lẽ chúng tôi tiếp tục suy nghĩ về những bà mẹ ở mọi lứa tuổi...Tất cả đều bao la tình mẹ với mong muốn nuôi con khỏe mạnh, dù cho thế giới có văn minh, hiện đại đến thế nào thì làm mẹ vẫn là một thiên chức. Khi thực hiện thiên chức ấy, chúng ta trân trọng những tấm lòng, những trái tim đã cùng chung nhịp đập yêu thương, lo lắng, sẻ chia...và BS Đỗ Hồng Ngọc là một trong những người ấy.




Đọc tiếp ...

Thứ Tư, 4 tháng 7, 2012

Những ngôi trường (1)

 Trường Bổ túc công nông

Tháng 10-1975, tôi từ Tp.HCM chuyển về Mỹ tho, được nghỉ thêm 2 tháng thai sản để chờ trường Bổ túc công nông của Mỹ Tho khai giảng.

Lúc đó, chúng tồi chỉ có khoảng 15 người, là những người có lý lịch tốt (đã tham gia cách mạng, là gia đình cách mạng) và một vài giáo viên từ miền Bắc vào.Cơ sở của trường là trường Tân Dân (một trường tiểu học dạy tiếng Hoa), ở phường 2, qua khỏi cầu Quay một đoạn. Hiệu trưởng lúc đó là cô Hai Nhiên. Việc gì chúng tôi cũng cùng nhau làm, không phân biệt giáo viên hay nhân viên. Trường bắt đầu chiêu sinh, các lớp cấp 1 nhiều học viên hơn nên học ở các phòng học phía sau sân bóng rổ. Các lớp cấp 2 thì học ở dãy phòng phía trên, nơi đây cũng là văn phòng làm việc của trường. Một số giáo viên, nhân viên ở tại trường, dãy nhà tập thể, phòng nào cũng nhỏ, nóng.

 Vậy mà, trong khuôn viên nhỏ bé ấy, nhiều học viên đã tốt nghiệp cấp 1 rồi cấp 2, cũng có những đôi đã thành duyên. Đa số học viên đa số đã có tuổi và với họ, việc cầm súng dễ hơn học chữ nhiều. Do đặc thù của chương trình Bổ túc, chúng tôi phải dạy một ngày 2 buổi: sáng là chương trình chính khóa và chiều là phụ đạo. Mỗi học viên, trong một niên khóa, có thể học tối đa 3 cấp lớp, họ học miệt mài, thì chúng tôi, cũng phải dạy liên tục, không dám kêu than.Vì chưa bao giờ tiếp xúc và giảng dạy đối tượng đặc biệt này nên chúng tôi có nhiều lúng túng, dễ dãi quá thì không được, nghiêm khắc một chút thì bị phê bình, góp ý ngay.
Tôi không sao quên được chú Mười H, đi học khi tuổi đã xấp xỉ 60, tiếp thu chậm hay quên nhưng lại thích những con điểm 8, điểm 10. Chú thường xuyên năn nỉ: "cho điểm cao, hăng, học mới nổi!". Thỉnh thoảng, tôi và vài đồng nghiệp khác bị Chi Bộ phê bình "tiểu tư sản", chúng tôi lại tỉ tê tâm sự rồi cùng nhau chia sẻ, động viên. Lúc đó, dường như không ai dám có ý nghĩ thay đổi công việc hay xin chuyển đi trường khác vì chúng tôi là thành phần được chọn lựa mà! Hơn nữa, ở cái thời mà người đi làm việc mới có các tiêu chuẩn: gạo, thịt, cá, vải vóc, đường, sữa...thì làm sao dám nghỉ việc?
Ôi, những năm 1975, 1976, 1977 sao mà khó khăn đến...thảm! Một số chị em trong chúng tôi đã có gia đình nên không tránh khỏi tình trạng bầu bì rồi nuôi con nhỏ, con cái đau ốm liên miên, mẹ cũng suy dinh dưỡng...! Trường trở thành nhà trẻ, các con bò lê la dưới đất cho mẹ dạy, đôi khi học viên còn gữi trẻ giùm cho cô. Lúc đầu, lớp được phân một diện tích đất nhỏ để trồng rau (gọi là có lao động!). Đó cũng là công việc của giáo viên chủ nhiệm lớp.Nhưng chủ nhiệm mà "tiểu thư". lại còn có con nhỏ như tôi thì chỉ đứng nhìn học viên cày xới rồi thu hoạch. Rau xà lách, cải xanh được chở xe đạp đi bán, thu được chút tiền cho quỹ lớp. Phải công nhận là các học viên của tôi rất xuất sắc trong "món" này. Có lần đi đào kênh, tôi cũng phải hướng dẫn học viên mà vô cùng ái ngại, vì tôi cầm cây cuốc không nổi thì hướng dẫn cái gì đây?! Gọi là "chịu trận" chứ không phải "đứng mũi chịu sào". Đến trưa, học viên "yêu cầu" tôi phải về vì em bé ở nhà, từ sáng, phải nhịn sữa! Đến năm 1977, có phong trào trồng cao lương, trường được cấp đất ở Tân Mỹ Chánh thì chúng tôi nhận một diện tích đất lớn hơn, công việc vất vả hơn, đường đi cũng dài hơn.

Mỗi tuần, ba buổi tối, tôi còn phải đến UBND Mỹ Tho dạy cho một lớp cán bộ cấp cao. Phòng học cũng là nơi làm việc, buổi tối, không có người giữ xe nên chiếc xe đạp của tôi phải mang lên phòng học. Tuy hết sức cố gắng, nhưng tôi không sao xê dịch nổi  xe lên các bậc thang cao. Tôi được trợ giúp và lớp thường không vắng học viên nào, chỉ vì: "thích giọng đọc thơ của cô giáo, mấy thầy người Bắc, nói gì, tụi tui nghe không kịp!".

Ngoài giờ dạy, chúng tôi làm đủ thứ nghề: trồng rau, nuôi heo, đan len cho tổ hợp xuất khẩu...Chị T ngày nào cũng chạy xe đạp về Bến Tre, xe của chị chất đầy những dừa, chuối..., chị vất vả lắm mà lúc nào cũng vui vẻ, sẵn lòng với bạn bè nên tôi yêu quý chị vô cùng. Chị T hay cho chúng tôi ăn chuối và hay rủ chúng tôi lên nhà chị chơi. Chị có đủ các loại chuối (chuối khô, chuối ép, chuối hồng..) mà loại nào chúng tôi cũng thích. Chị L thì không có gia đình nên luôn gồng gánh công việc cho những người có con mọn như tôi.

Tôi làm việc tại trường Bổ túc công nông hơn 3 năm. Thời gian tuy chưa dài lắm nhưng cũng đủ để tôi suy gẫm về sự khác biệt giữa những điều mà một tiểu thư từng sống trong tháp ngà hạnh phúc như tôi đã từng tuyệt đối tin tưởng với những thực tế của đời thường. Cái "Đời thường" mà mỗi chúng ta rồi cũng phải trải qua để từ đó, thêm giàu có về vốn sống để mạnh mẽ thêm, gan lì hơn.

Sau đó, tôi chuyển về Phòng Giáo dục rồi tiếp tục đến một số trường khác, cũng ở tại Mỹ Tho nhưng có lẽ vì mải lo cơm áo, gạo tiền nên chúng tôi... lạc mất nhau. Gần đây, chị L, hiện đang định cư ở Úc, thông qua blog của BS Đỗ Hồng Ngọc, nhờ cái tên đặc biệt của tôi mà chị nhận ra tôi và nhờ BS cho số đt của tôi. Khi chị gọi về, giọng nói quen thuộc, cách nói chậm rãi không khác xưa của chị đã khiến tôi nghẹn ngào. Nhất định chị em mình không lạc nhau nữa nghe chị. Chị có về Việt Nam một lần, lặn lội đi thăm chị T nhưng vì tôi đã về SG nên không gặp được tôi, không ai biết tin tức của tôi. Chị cho tôi số đt của chị T. Thật là hi hữu, người trong nước với nhau mà lại phải nhờ một người ở nước ngoài mới tìm được nhau.

Chủ nhật, 17-6-12, tôi đã về Tân Thạch (Bến Tre) để thăm anh chị T. Gần 28 năm chúng tôi mới gặp lại nhau, mặc dù chị và tôi chỉ cách nhau có cái cầu Rạch Miễu. Chị về ở hẳn trong ngôi nhà mà ngày xưa chị đã đi-về hằng ngày. Khi còn làm việc chung, thấy chị quá vất vả nuôi con, tôi hay nói: "Em bái phục chị". Chị luôn cười thật hiền: "Nuôi con mà em, rồi em cũng như chị thôi!". Giờ các con của chị đã thành danh, anh chị không còn dạy học nữa và đã chuyển sang nghề khác. Nhìn cơ ngơi của chị, thấy anh chị vẫn hạnh phúc, tôi nhẹ lòng. Trước đây, mỗi lần nhớ chị, tôi thường xót xa: không biết cuộc sống của chị giờ ra sao, có còn cơ cực như xưa không?
Bữa trưa, anh đãi tôi món cháo cá lóc mà anh đã chuẩn bị để hai chi em có thời gian tâm sự. Cá lóc ruộng sao mà ngọt ngon.
Mấy cây bưởi của chị sai trái thấy ham.

Tôi nhờ anh chụp hình để khoe với chị L, chúng tôi đã gặp nhau, vui vẻ như thế này...nhắc chuyện xưa, kể chuyện của mấy chục năm xa cách...và những câu chuyện cứ nối nhau không dứt.
Hơn 4g chiều tôi mới chịu về, anh lãnh nhiệm vụ làm tài xế đưa tôi về Mỹ tho. Đúng là, "được ăn, được nói, được gói đem về", chị cho tôi một cặp bưởi to, một chai nước màu dừa do chị làm, một gói chuối ép với lời giải thích: "Hôm chị L về đây chơi, chị cũng có tặng chuối này, đem qua Úc ăn, chắc thấy ngon nên chị L có đt về nhắc chị, khi nào gặp em thì phải cho em món này!". Mãi mãi em vẫn là đứa em nhỏ của các chị. Những người chị của tôi, tôi phải nói như thế nào về những gì mà các chị đã dành cho tôi?



Duyên may đã cho em gặp lại các chị và chúng ta chẳng bao giờ xa nhau nữa. Em sẽ về thăm chị T lần nữa với nhiều bạn khác. Hứa hẹn những cuộc họp mặt khác ấm áp, vui vẻ, râm ran những câu chuyện ngày xưa-bây giờ....


Đọc tiếp ...

Thứ Hai, 3 tháng 10, 2011

Có những ước mơ ... chưa chắp cánh




Photobucket

Bây giờ là mùa Thu (cứ tạm gọi như vậy, dù Sài Gòn chỉ có hai mùa mưa nắng), mưa thưa dần, sáng sớm đã bắt đầu có những cơn gió sang mùa gợi cho ta nhiều nhớ thương, tâm tư lắng đọng.

 Năm ấy…Huỳnh Ngọc Hội ra đi mãi mãi vào tháng 10. Hôm nay, tôi xin được nhắc lại những câu chuyện về người bạn vô cùng thân thương ấy.

 Trước 1975, tôi biết chứ không quen thân Hội vì Hội thuộc đoàn công tác xã hội mà tôi, chủ yếu, chỉ tham gia hoạt động báo chí. Nhưng tôi cũng hân hạnh được đi dự đám cưới của hai bạn Hải - Hội và cũng được nghe loáng thoáng đây là lễ tuyên bố. Lúc ấy, tôi thật sự không biết “tuyên bố” là gì hết nên lòng cũng nôn nao chờ đợi. Quả thật, đây là một đám cưới mà tôi được dự lần đầu, không tiệc tùng linh đình mà có cái gì đó lạ lắm, tôi ngây thơ nghĩ rằng: chắc như vậy là “tuyên bố”! Cô dâu mặc áo dài màu đỏ (đến bây giờ tôi vẫn còn nhớ), chú rể mặc áo sơ-mi trắng (không có áo veste) và hình như lúc đó, chúng tôi chỉ được ăn bánh, uống nước (không ăn tiệc mặn), hát nhạc phong trào, và, đúng như chị Quế “tổng kết”: rất vui. Tôi thì nhớ là lễ được tổ chức tại Thủ Đức, trong một gian nhà rộng, đủ để chúng tôi “quậy” và có những cảm nhận tốt, những điều không thể quên về 1 lễ “tuyên bố” mà thật sự, ở thời điểm đó, chúng tôi chưa hiểu hết ý nghĩa và cũng không dám hỏi ai để mà tìm hiểu thêm.

 Sau hòa bình, tôi ít có dịp gặp Hội. Trong một lần họp mặt ở nhà chị Quế (lúc chị còn ở đường Hoàng Sa), không biết ai đó hỏi thăm thì tôi nói con gái đang học tiếng Nhật ở ĐH KHXH&NV. Hội vui mừng cho biết đang cần 1 người phiên dịch tiếng Nhật cho Savimex vì công ty làm việc với đối tác Nhật. Thế là con gái tôi “nghiễm nhiên” trở thành người phiên dịch cho chú Hội. Công ty ở gần Hóc Môn, con gái tôi được chú ghé ngang đón để cùng đi làm với chú, trưa được về để chiều tiếp tục đi học. Lương trả bằng tiền đô, lúc đó, đối với mẹ con tôi là điều không dám mơ ước. Nhưng con gái tôi chỉ làm được vài tháng rồi xin nghỉ và giới thiệu một người bạn của nó vào làm thay. Mãi đến bây giờ tôi mới dám “công khai” lý do con gái ngưng làm việc ở Savimex. Con tôi nói: chú Hội hiền quá mà mấy ông người Nhật vốn rất nguyên tắc và xem trọng giá trị, chất lượng của sản phẩm nên họ nói nặng lời, rất khó nghe, con không dám dịch nguyên văn vì thấy tội nghiệp chú Hội. Mà khi họ đã nói, mình không sửa thì cũng không xong với họ, con khó xử quá nên con đã nói với chú con phải tập trung học, không có nhiều thời gian để đi làm. Tôi nhắc lại câu chuyện “bây giờ mới kể” này, không nhằm mục đích phê phán ai, cũng không kết luận ai đúng/sai, chỉ muốn nó rằng: quả thật, Hội rất hiền lành, như chị Quế và chắc chắn nhiều bạn khác cũng nhìn nhận.

 Tôi đã được dự kỷ niệm ngày cưới của hai bạn Hải-Hội được tổ chức tại một nhà hàng, trang trọng và ấm cúng. Trong chúng tôi, không phải chỉ có Hội mới trải qua mấy chục năm chung sống, nhưng quả thật, đây là lần đầu, chúng tôi dự kỷ niệm ngày cưới. Vui mừng chia sẻ cùng bạn. Trong tôi, chỉ còn đọng lại nhóm từ: “má của chúng tôi” trong những lời phát biểu của Hội. Tôi biết, với Hội, người mẹ cả đời vì con ấy, quan trọng biết chừng nào.

Chính Hội là người đã đưa ra ý kiến cùng nhau làm Kỷ yếu Văn Khoa để ghi lại những kỷ niệm đáng nhớ. Tôi hăng hái hưởng ứng và năm đó, tôi đã khai bút ngay mồng 1 Tết với bài viết: “Hơn ba mươi năm vẫn nhớ”, nhưng rồi, lâu lâu sau gặp lại, hỏi thăm mới biết, Hội chỉ mới nhận được bài của Minh An, Thu Nhân và tôi (cũng có thể có những bài khác nữa mà tôi chưa biết). Và với số bài ít ỏi như vậy thì Kỷ yếu chưa thể ra mắt.

Ngày qua ngày, tháng qua tháng, năm qua năm, ước mơ ấy chưa thành hiện thực. Gặp nhau, đặc biệt là sau khi Hội đã đi xa, chúng tôi vẫn nhắc để mà thương, để mà quý một người bạn. Và mãi cho đến khi Góc nhỏ Văn Khoa ra đời, chúng tôi mới dám nghĩ mình đã làm một việc mà chắc chắn Hội sẽ rất vui.

 Trong một lần khác, họp mặt tại nhà chị Q khi chị đã dọn về đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa, tôi mới biết Hội đang theo học chương trình sau đại học. Tôi cũng đang học, tuy khác ngành nhưng vẫn có những môn cơ sở giống nhau. Thỉnh thoảng, có hỏi thăm nhau tài liệu, động viên nhau vì ai cũng vừa đi làm vừa đi học nên lắm gay go. Tôi không khỏi ngạc nhiên khi được nghe Hội chia sẻ: đi học tiếp để chuyển nghề: thích đi dạy hơn là đi làm công ty, vì lúc ở trường Đoàn, Hội có dạy nhiều. Tôi vẫn nhớ Hội khẳng định: đi dạy vui và thích hơn nhiều, tưởng tượng một ngày nào đó, được vào lớp dạy, “sướng” gì đâu! Đi làm bon chen lắm!

Tôi viết những dòng này mà cay mắt, nhớ giọng nói chậm rãi, hiền lành của Hội, nhớ những gì con gái đã nhận xét về “chú Hội” (lúc ấy là Phó Giám đốc) trong thời gian ngắn ngủi được làm việc ở Savimex. Ước mơ ấy tầm thường và đơn giản như người bạn chân tình của tôi nhưng rồi…ước mơ cũng bay xa mãi với người…Bạn chưa được ôm tập sách và trở lại bục giảng như bạn mơ ước dù tấm bằng Thạc sĩ bạn đã có rồi. Ngày bảo vệ xong, bạn cũng có báo tin cho tôi.

 Sau đám cưới Hải Âu, chúng tôi hẹn nhau đến Trung tâm y tế Q.8 để thăm Tú Lộc, lúc ấy, Hội đã bắt đầu húng hắng ho. Tôi hơi ngạc nhiên khi thấy trời vừa tối là Hội kéo cổ áo cao, cài nút cẩn thận, tôi đã định trêu chọc, nhưng nghe bạn bệnh nên tôi không dám. Chuyện rồi cũng qua đi. Thời gian ngắn sau đó, Âu đến nhà giúp tôi  vì có trục trặc khi nối mạng, Âu nói ba con đang nằm BV Nguyễn Trãi vì bị tràn dịch màng phổi. Chúng tôi lại hẹn nhau đi thăm, còn đùa vui: sao nhõng nhẽo với vợ hoài vậy? Bạn vẫn tươi cười và chúng tôi không thể ngờ tai họa đang đến…Những ngày tiếp theo, bệnh diễn biến nhanh, vào ra bệnh viện liên tục, thuốc tây rồi ta…Hải đã chính thức thông tin với chúng tôi bệnh của Hội. Tôi nghĩ hiền lành, tốt bụng như Hội mà sao lại…Có một lần, nghe Hải nhắn Hội đang xuống tinh thần, chúng tôi vào ngay, nói cho bạn cười mà tim ai cũng thắt lại. Ngồi xung quanh nhau (dưới đất, chúng tôi đông quá, làm sao có đủ ghế ngồi), anh Kiệt “tổng kết”: hồi đó, gặp nhau bàn chuyện xuống đường, rải truyền đơn, mấy chục năm sau, gặp lại, toàn kể về bệnh tật, bày nhau cách chữa bệnh này, bệnh nọ…

 Sau đó, thỉnh thoảng, bạn vẫn liên tục vào-ra bệnh viện, có khi chúng tôi chưa kịp vào thăm...Cho đến một buổi chiều, chúng tôi hối hả đi đến phòng hồi sức, Hội vẫn nhìn chúng tôi nhưng mắt không còn thần sắc, với mỗi bạn, Hội nói một câu khác nhau, không còn sáng suốt nữa và chúng tôi hiểu, điều đau đớn sắp xảy ra. Lúc đó, đã hơn 22g, tại cái băng đá của BV, chúng tôi đã bàn tính mọi việc với Hải, tôi nhớ mà thương Hải xót xa: “Bây giờ em còn tỉnh nên dặn như vầy…”. Điều mà chúng tôi ái ngại nhất là cho đến lúc đó, bà mẹ vẫn không biết đứa con trai duy nhất của bà đang mang bệnh ngặt nghèo. Chúng tôi sợ bà không chịu đựng nổi, phải nói như thế nào đây…và ai sẽ là người nói…?

 Hội ở lại BV thêm 1 ngày nữa, vẫn còn tỉnh táo và nói với anh HTM: “Xin cho em về nhà”. Lúc này, ai cũng muốn làm theo ý của Hội. Chiều hôm đó, Hội về nhà như nguyện ước. Tôi đến nơi thì Hội vừa ra đi, chỉ còn kịp nghe Hải gọi: “Anh Hội, anh Hội…” nhưng Hội đã xuôi tay. Chị Hồng Diệp kể lại: trước đó mấy phút, Hội vẫn tỉnh táo, nói chuyện nhiều lắm rồi mới từ bỏ mọi người. Tôi nắm chặt hai bàn tay, lấy lại bình tĩnh rồi bước ra ngoài gọi điện thoại cho anh Kiệt, cho chồng tôi và Minh An. Anh Kiệt đang trên đường đến, Minh An nghẹn ngào…chồng tôi và con gái tất tả đi…Chúng tôi biết trước điều này rồi sẽ đến nhưng ai cũng sợ…Hải bảo vừa cho bà mẹ biết bệnh của Hội sáng hôm đó vì sợ khi mang Hội về, bà không đủ sức chịu đựng.

 Tại Nhà tang lễ Lê Quý Đôn, tôi nhìn đôi mắt buồn rười rượi của anh trên di ảnh, nhớ đến giọng ngâm thơ trong Nha Cảnh sát Đô thành năm 1972, nhớ những ước mơ chưa được chắp cánh của anh, nhớ tấm lòng của anh, nhớ những điều tôi đã nghe anh chia sẻ…Nước mắt chảy thành dòng, tôi ngậm ngùi thắp nhang tiễn anh. Bà mẹ ngồi lặng yên ở một góc, nhìn mọi người đi viếng tang, nghe anh Kiệt thay mặt phong trào đọc điếu văn, bà không còn sức lực để nói điều gì cả nhưng tôi thấm thía lắm nỗi đau “tre khóc măng”.

 Những ngày gần đây, nhận được thông tin của Hải Triều rồi Hải Âu trong hai lần khác nhau, tôi đều lặng người đi một chút vì xúc động. Vậy là, cuối cùng, các con cũng đã về nhà Văn Khoa. Nơi ấy, ba của các con vẫn luôn hiện diện cùng các cô chú.

 Tôi tưởng tượng đến những cánh diều, bay cao, bay xa. Những ước mơ, dẫu chưa kịp thành hiện thực nhưng vẫn rất sáng, rất trong, rất đẹp và…cho dẫu đến bao giờ, trong chúng tôi, Huỳnh Ngọc Hội vẫn là người bạn mà chúng tôi mãi trân quý, yêu thương.


Đọc tiếp ...